Số lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 14


Hôm nayHôm nay : 383

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 11323

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 724250

Giới thiệu

Đôi nét về giáo sư Cao Ngọc Lân

ĐÔI NÉT GIỚI THIỆU VỀ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ CAO NGỌC LÂN Họ và tên:                 CAO NGỌC LÂN           Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm...

Giao su Cao Ngoc Lan

Trang nhất Bài viết» Tâm linh»

MỪNG XUÂN DI LẶC

Chủ nhật - 07/02/2016 07:41
Bụng to, má lúm đồng tiền Vây quanh sáu trẻ ngửa nghiêng reo hò Đây là hình ảnh của Đức Phật Di Lặc. Ngày 01-01 ÂL hàng năm là ngày thánh đản của Đức Phật Di Lặc. Chính vì vậy, ngày mùng một Tết quý Phật tử đi viếng cảnh chùa, cầu nguyện, thắp nhang cầu cho gia đạo bình an, xin lộc thường thấy các chùa treo câu chúc “Mừng xuân Di Lặc”. Điều này nhằm gợi nhớ ngày thánh đản của Ngài. Trước thềm năm mới Bính Thân năm 2016, chúng tôi gửi tặng bạn đọc bài viết: “DI LẶC TÔN PHẬT” với lời cầu chúc đến bạn đọc một năm mới an khang, thịnh vượng, vui vẻ và hạnh phúc.
 
Di Lặc xuất xứ từ Phạn ngữ “maitri” có nghĩa là “từ bi”. Cũng vì lẽ đó mà chúng sinh hay tụng niệm Ngài với danh xưng “Nam mô Đại Từ Di Lặc Bồ tát”. Với lòng từ bi, trí tuệ vô lượng qua ngôn ngữ và hành động, Phật Di Lặc dẫn dắt chúng ta đến nơi giải thoát. Tên của Ngài là A Dật Đa. “Kinh Phật Di Lặc” kể rằng: “Ngài sinh ở Nam Thiên Trúc, thôn Kiếp Ba Lợi, Ba Lợi Thiên Ba La Môn, xuất thân từ dòng dõi quý tộc. Sau này Ngài trở thành đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni có di ngôn rằng, vài triệu năm sau Di Lặc sẽ là người kế tục Đức Thích Ca mà cai quản thế giới. Khi giáo lý Đức Thích Ca không còn trên thế gian này chúng sinh sẽ trải qua nhiều đau khổ bất hạnh khiến Đức Di Lặc động lòng từ bi nên thể hiện thành một vị đại sư thân tướng trang nghiêm tốt đẹp dạy chúng sinh thực hành hạnh nhân ái”. 
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói rằng: “Ngày mùng một tháng giêng là ngày kỷ niệm vía Đức Di Lặc Bồ tát và sau này Ngài sẽ là người giáo hóa ở Hội Long Hoa”. Cho nên chúng ta thường nghe câu tán thán và đảnh lễ Ngài trong những ngày đại lễ quan trọng này là “Nam Mô Long Hoa Giáo Chủ, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật”. Câu này xác định rằng: Đức Di Lặc sẽ là vị Phật tương lai, được Đức Phật Thích Ca  thọ ký cho Ngài sau khi thành Phật ở thế giới Ta bà này để tiếp tục giáo hóa độ sinh.
Nói về tương lai của Đức Di Lặc thì trong Kinh Di Lặc Hạ Sinh có chép rằng: “Hiện nay Đức Di Lặc là một trong bốn vị Bổn Xứ Bồ tát đang ở nội viên cung trời Đâu Suất, đợi đến khi thế giới này hết kiếp giảm thứ chín, đến kiếp tăng thứ mười, lúc ấy Ngài sẽ hóa thân xuống cõi trần này trong nhà của một vị Bà La Môn tên là Tu Phạm Na. Thân mẫu của Ngài tên là Phạm Na Bạt Đề. Khi sinh ra Ngài có nhiều tướng tốt, đức hạnh vẹn toàn, thông minh quán chúng, lớn lên Ngài xuất gia tu hành, đến núi Kê Túc để nhận lãnh Y Bát của Đức Phật, do Tổ Ma Ha Ca Diếp trao lại, rồi Ngài đến ngồi dưới gốc cây Long Hoa dùng Kim Cang trí trừ sạch vô minh, chứng đắc Vô Thượng Bồ đề. Sau đó, Ngài bắt đầu thuyết pháp tại Giảng đường Hoa Lâm dưới cây Long Hoa. Hội thứ nhất, độ được 96 ức người thành A La Hán. Hội thứ hai, độ được 94 ức người thành A La Hán. Hội thứ ba, độ được 92 ức người thành A La Hán.  Do vậy mà gọi là Long Hoa Tam Hội.  Ngài thuyết pháp đến sáu vạn năm, hóa độ vô số chúng sinh tu hành thoát khổ”.
Trong thời gian đợi chờ đến hội Long Hoa, Đức Di Lặc đã phân thân, hóa thân ở nhiều quốc độ khác nhau để giáo hóa chúng sinh. Trong Kinh thường nói rằng: “Bồ tát dĩ lợi sinh vi bổn hoài”, nghĩa là Bồ tát lấy sự làm lợi ích cho chúng sinh, làm bổn phận và trách nhiệm của mình.
Một trong những hóa thân của Ngài mà chúng ta thường nghe phổ biến đó là Bố Đại Hòa Thượng trong Phật Giáo Trung Hoa, là một vị hòa thượng tu ở chùa Lương Nhạc Lâm đất Minh Châu, huyện Phụng Hóa, Trung Hoa, pháp danh Khiết Thử, hiệu Trường Thinh Tử, viên tịch năm 917. Ngài thường mang cái đãy bằng vải đi khắp chợ búa xóm làng, ai cho gì cũng bỏ hết vào đãy mang đi. Ngài thường giảng kinh cho người nghèo, làm nhiều điều màu nhiệm, lạ thường. Trong thiên hạ không ai hiểu được Ngài là người như thế nào cả, chỉ cùng nhau gọi là vị Bố Đại Hòa Thượng (vị Hòa thượng mang túi vải lớn). Đến đời Lương, niên hiệu Trình Minh năm thứ ba, Ngài nhóm chúng lại tại chùa Nhạc Lâm, Ngài ngồi ngay ngắn nói bài kệ:
“Di Lặc Chơn Di Lặc,
Hóa thân thiên bách ức,
Thời thời thị thời nhơn,
Thời nhơn giai bất thức”

Có nghĩa là:
“Di Lặc thật Di Lặc,
Biến hóa trăm ngàn ức thân,
Thường hiện trong cõi đời,
Mà người đời chẳng ai tin biết”

Nói xong bài kệ, Ngài an nhiên thị tịch.
Vì căn cứ theo hóa thân này, nên Phật giáo Trung Hoa và Phật giáo Việt Nam, thường tạc tượng thờ Ngài với vẻ mặt hiền từ hân hoan, miệng cười vui vẻ. Ngài tượng trưng cho nguồn vui uyên nguyên và linh động chiếu sáng. Vì thế, tượng Ngài được tạc theo hình ảnh một ông Phật to lớn, mập mạp, dáng ngồi rất tự tại, áo phanh ngực ra và miệng cười rạng rỡ. Do đó, mọi người thường gọi Ngài với cái tên thân thiện ông “Nhịn mặc mà ăn” (to béo) để phân biệt với ông “Nhịn ăn mà mặc” (Tuyết Sơn gầy ốm). Trên người của Ngài còn có sáu đứa bé tinh nghịch, đứa kéo tai, đứa sờ bụng, đứa kéo áo…
Danh hiệu Di Lặc có nghĩa là Từ Thị (Thị: họ; Từ: từ bi), qua phương Tây người ta gọi Ngài là Future Buddha (Đức Phật tương lai) hay là Smile Buddha (Đức Phật hoan hỷ), vì Ngài tu tập hạnh Từ bi tam muội, tâm luôn tỏa chiếu ánh sáng của tình thương yêu trong lành, rộng lớn và phát nguyện cứu độ mọi người. 
Khi lòng thương yêu tràn đầy thì sự hiểu biết chân thật chiếu sáng, cho nên tâm hồn luôn an vui tự tại trước mọi biến thiên, đổi thay trong cuộc đời.
Ngày 01-01 ÂL hàng năm là ngày thánh đản của Ngài, chính vì vậy, ngày mùng một Tết quý Phật tử đi viếng cảnh chùa, cầu nguyện, thắp nhang cầu cho gia đạo bình an, xin lộc thường thấy các chùa treo câu chúc “Mừng xuân Di Lặc”. Điều này nhằm gợi nhớ ngày thánh đản của Ngài.
Câu niệm danh hiệu của Ngài là: “Nam mô Đại Từ Di Lặc Bồ tát” hay “Nam mô Di Lặc tôn phật”.
 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Design by Pcduchiep