Số lượng truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 6


Hôm nayHôm nay : 405

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10311

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 687892

Giới thiệu

Đôi nét về giáo sư Cao Ngọc Lân

ĐÔI NÉT GIỚI THIỆU VỀ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ CAO NGỌC LÂN Họ và tên:                 CAO NGỌC LÂN           Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm...

Giao su Cao Ngoc Lan

Trang nhất Bài viết» Tâm linh»

LONG MẠCH THAY ĐỔI THEO THỜI GIAN

Chủ nhật - 18/06/2017 06:34
Kinh Thư viết: “Người mất rồi có Khí, Khí có thể cảm ứng, ảnh hưởng đến mọi người” . Thế nên sự cảm ứng giữa người sống và người đã khuất là có căn cứ thực sự. Ví như vào đời nhà Hán, quả chuông đồng ở cung Vị Ương kêu thành tiếng, thì núi chỗ đã khai thác đồng để đúc chuông nơi miền tây bị sụp đổ, chính là sự cảm ứng.
1. Long mạch quan hệ đến sự thịnh suy của gia tộc hay triều đại
a. Sinh khí nuôi xương cốt
Khi người chết rồi đem mai táng, Chân khí của người ta hội với Huyệt khí tạo thành Sinh khí, thông qua Âm Dương giao lưu hình thành đường lối, ảnh hưởng trong sâu thẳm, lảng vảng xung quanh vận khí của người thân. Hai khí Âm Dương sóng đôi, thở ra tạo thành gió, bay lên tạo thành mây, rơi xuống mà thành mưa, chảy trên mặt đất mà thành Sinh khí.
Sinh khí đi trên mặt đất, khi sinh phát thì nuôi dưỡng vạn vật. Con người là do tinh cha huyết mẹ kết lại mà thành, cho nên bản thân mình là tinh hoa của hai khí Âm Dương. Mỗi người khi sống là hai khí Âm Dương hoạt động nơi toàn thân, khi mất rồi thịt da tiêu hết, nhưng hai khí Âm Dương không hề tiêu mất. Khí ấy ẩn bám trên người. Khí tụ nơi xương, xương người quá vãng không mất, cho nên khí của họ vẫn hoạt động.  
Khi hạ táng, cần nhất tìm nơi âm trạch có Sinh khí. Đó là luồng khí chạy trong lòng đất. Khí ấy làm cho Sinh khí kết hợp với hai khí Âm Dương tồn lưu trong xương cốt, bảo hộ cho thân nhân đang sống. Những người có cùng huyết thống thì có cùng tần số điện từ nên dễ bắt được sóng của nhau. Kinh Thư viết: “Người mất rồi có Khí, Khí có thể cảm ứng, ảnh hưởng đến mọi người”[1]. Thế nên sự cảm ứng giữa người sống và người đã khuất là có căn cứ thực sự. Ví như vào đời nhà Hán, quả chuông đồng ở cung Vị Ương kêu thành tiếng, thì núi chỗ đã khai thác đồng để đúc chuông nơi miền tây bị sụp đổ, chính là sự cảm ứng. Vào tiết trời xuân, cây cối bên ngoài đâm chồi khai hoa, thì các hạt lúa mạch để trong nhà cũng nảy mầm. Khí đi trên mặt đất, khi nó vận hành, tùy theo địa thế mà chạy. Khi tụ tập lại, cũng theo địa thế mà dừng chân. Cốt đá nơi núi non thung lũng, sống đất đột khởi nơi bình địa, đều là có Khí vận hành nơi đó. Kinh Thư viết: “Khí có gió thổi mà tản mát, gặp chỗ thủy dừng thì đứng tụ. Người xưa làm cho Khí dừng lại mà không để thất tán, dùng giới thủy hạn chế để cho nó không di chuyển đi mất, cái đó gọi là phong thủy”[2].
b. Sự vận hành của khí mạch
            Trong Phong thủy, Long mạch khí từ: nhật nguyệt, tinh tú theo mây mưa xuống núi và đất theo rễ cây cỏ ngấm vào lòng đất tạo thành mạch nước ngầm chảy trong lòng đất. Có chỗ mạch trồi lên mặt đất tạo thành huyệt. Khi mộ chôn đúng vào đó thì mả kết phát. Nơi có Mộ được nước là hàng đầu. Thanh Long và Bạch hổ làm cho hướng gió tụ về nơi có Huyệt mộ. Phía sau mộ có Huyền Vũ nên có thể tích chứa gió. Hơi nước bốc lên gặp gió thì ngưng tụ. Nơi có long mạch thì sẽ đem khí tản mát các nơi mà tụ tập một chỗ. Điều này giải thích tại sao Long mạch tốt phải hội đủ thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ.
            - Mạch khí chạy trong lòng đất, khí từ Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ chạy vào huyệt. Gió thổi vào bị ngăn cản bởi tay Thanh Long và tay Bạch Hổ dồn đến bị Huyền Vũ cản lại nên tụ lại nơi huyệt. Tại huyệt hội đủ cả hai khí Âm Dương, tạo nên sinh khí. Kinh Thư viết: “Thủy chảy trên mặt đất, gọi là Ngoại Khí”. Ngoại Khí dọc ngang là Giới Thủy, Nội Khí trong đất tự nhiên cũng theo đó mà tụ lại. Nếu sinh khí truyền vào xương cốt, xương cốt thu được sinh khí làm xương được nuôi dưỡng. Từ đó, linh hồn Tổ tiên sẽ truyền sinh khí phù hộ cho con cháu phát đạt về tài năng, trí tuệ, trở thành những người tài của đất nước.                       
c. Giải thích sinh khí theo khoa học
Giải thích về điều này dưới góc độ khoa học thì con người sinh ra lấy hình thể từ cha mẹ nên khi khí mạch di chuyển trong huyệt mạch, bồi bổ cho xương cốt. Con cháu từ đó mà cảm ứng được họa phúc. Từ đó được phúc lộc vĩnh trinh, vạn vật hóa sinh. Nếu long mạch bị triệt, luồng khí không nuôi dưỡng được xương cốt. Lúc đó, xương cốt sẽ khô mục, giống như cuống hoa bị cắt thì nhựa không nuôi được hoa quả. Kết quả là hoa quả sẽ bị hư[3]. Chính vì vậy, trong dân gian có câu: “giữ như giữ mả tổ” chính là để bảo vệ sự trường tồn, thịnh vượng của cả dòng họ và xa hơn nữa là bảo vệ sự trường tồn của một triều đại, một quốc gia. Kinh Thư từng viết: “Cạn sâu được thừa, Phong thủy tự thành. Đất là mẹ của Sinh Khí, có đất rồi mới có Khí. Khí là mẹ của Thủy, có Khí rồi mới có Thủy. Cho nên chôn tại nơi khô ráo nông cạn Khí cần nông, chôn tại nơi đất bằng Khí cần sâu”[4]. Long mạch có thể thay đổi hướng đi theo thời gian. Long mạch có thể bị triệt phá, trấn yểm và có thể hàn nối long mạch nếu biết đường đi của Long Mạch. Dưới đây là nột số chuyện về ba vấn đề trên.
2. Thiền sư Đinh La Quý nối Long mạch  
a. Đinh La Quý là nhà phong thủy lớn của Việt Nam
Trong suốt chiều dài lịch sử thì ở nước ta có rất nhiều thần linh, người tài không ngừng đấu tranh, chống lại thuật trấn yểm của Cao Biền. Có thể kể đến thiền sư Đinh La Quý. Đinh La Quý (852 - 936) là vị thiền sư Việt Nam thuộc thế hệ 10 của thiền phái Tỳ ni đa lưu chi, là học trò của Thiền sư Thông Thiện. Ông là trụ trì tại chùa Song Lâm, làng Phù Ninh, phủ Thiên Đức, tức làng Phù Ninh, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Từ nhỏ, Đinh La Quý đã đi học tập, tu hành ở nhiều nơi, gặp nhiều bậc thiền sư. Năm 808, thầy của sư Thông Thiện là sư Định Không trước khi mất đã dặn lại rằng người kế tục Thông Thiện sẽ mang họ Đinh. Vì vậy Thông Thiện gặp Đinh La Quý và truyền thụ cho ông kế tục[5].            
Sau khi tu hành đắc đạo, Đinh La Quý chọn đất dựng chùa. Nhiều lời nói của ông được người đương thời xem là lời sấm ngữ dự báo. Một thời gian ông ở chùa Lục Tổ, có đúc tượng Lục Tổ bằng vàng. Sau đó vì sợ trộm cướp, ông mang chôn giấu tượng ở cửa chùa và dặn mọi người: “Khi thấy vua sáng thì lấy ra, gặp chúa tối thì giấu đi”.   
b. Đinh La Quý phá trấn yểm Long mạch của Cao Biền
Vào thế kỷ 9, viên quan Tiết độ sứ đô hộ Việt Nam là Cao Biền xây thành Đại La bên sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp có khí tượng đế vương, nên đã đào đứt con sông Đuống và những ao Phù Chẩn (Thuộc làng Phù Chẩn, thị trấn Từ Sơn, Bắc Ninh) 19 chỗ để trấn yểm nó. Mục đích của Cao Biền là làm đứt long mạch, cản trở sự ra đời của đế vương tại Việt Nam. Thiền sư Đinh La Quý đã khuyên Khúc Lãm lấp lại những chỗ bị đào như xưa để nối lại long mạch. Tại Cổ Pháp (Đường Lâm – Sơn Tây), Cao Biền có cho đào 19 cái lỗ chôn bùa ngải để yểm đất. Thiền sư Đinh La Quý biết được, cho người đào 19 cái bùa đó lên và trồng 19 cây lê vào. Sau này Đường Lâm rất nhiều nhân tài, là đất “hai vua” của nước ta.    
c. Đinh La Quý nối Long mạch làng Diên Uẩn
Theo sách Thiền Uyển tập anh, cây gạo làng Diên Uẩn do thiền sư Đinh La Quý trồng ở chùa Châu Minh, thuộc hương Cổ Pháp, vào năm 936, thời Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ. Việc trồng cây gạo của sư Đinh La Quý nhằm khôi phục lại long mạch bị Cao Biền chặt đứt từ giữa thế kỷ thứ 9, ngoài mục đích sinh ra chân mạng đế vương, chấn hưng đất nước còn vì bậc đế vương đó có thể phò dựng chính pháp làm hưng thịnh Phật giáo[6].  Sau khi trồng cây gạo, sư Đinh La Quý làm bài kệ như sau: 
Nguyên nghĩa                                             Dịch nghĩa.                                                                                               
Đại sơn long đầu khỉ                nghĩa là             Đại sơn đầu rồng ngẩng 
Cù vĩ ẩn châu minh                  nghĩa là             Đuôi cù ẩn Châu minh.      
Thập bát tử định thiền              nghĩa là             Thập bát tử định thành 
Miên thọ hiện long hình           nghĩa là             Bông gạo hiện long hình      
Thổ kê thử nguyệt nội              nghĩa là             Thỏ gà trong tháng chuột   
Định kiên nhật xuất thanh        nghĩa là             Nhất định thấy trời lên   
Bài thơ này được xem nhằm mục đích tuyên truyền cho sự ra đời của nhà Lý vào tháng 10 năm Dậu, và sau đó nhà Lý ra đời vào tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009) - ứng với sự tiên đoán của bài thơ. Trước khi viên tịch, ông còn dặn lại sư Thiền Ông: 
- Sau khi ta tịch, con khéo đắp một ngọn tháp bằng đất, dùng phép, yểm dấu trong đó, chớ cho người thấy.
Dặn dò xong, Đinh La Quý viên tịch, thọ 85 tuổi.
d. Giai thích về nối Long mạch
Việc trồng cây gạo nối long mạch có thể giải thích như sau: khi long mạch bị đứt, nguyên khí đến chỗ đó không đi tiếp được sẽ tản đi hay thoát ra ngoài. Phần phía sau không còn khí mạch nên cây cối khô cằn, không được sinh khí nuôi nên xương cốt hư hại… Khi cây gạo được trồng lại, đất lấp đầy, rễ cây hút nước, chất khoáng làm cho khí mạch lưu thông trở lại và hai đầu long mạch sẽ được hàn. Điều này giống như mạch máu bị dứt đã được nối lại và hoạt động bình thưởng. Từ khi mạch được nối lại thì Lý Công Uẩn được sinh ra, trở thành vị vua đầu triều Lý.
Trong thời gian ở nước ta, kỳ giai đoạn lịch sử nào và đất nước nào, những ngôi mộ hay nhà ở được đặt trên những huyệt phong thủy lớn (long mạch) đều sinh ra những vị Đế vương, công hầu, khanh tướng. Những ngôi đất phát đế vương là những ngôi đất trời cho mới được (thiên táng). Khi táng được vào ngôi đất phát vương thì sinh ra những người có tài năng phi phàm để xây dựng nên một triều đại mới. Điểm qua lịch sử Việt Nam từ mấy ngàn năm qua, các triều đại ra đời đều vô tình được những ngôi đất phát vương. Vế vấn đề này, chúng tôi đã trình bày trong cuốn sách Phong thủy theo quan điểm của người xưa[7].
3. Long mạch có thể thay đổi theo thời gian
a. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ thầy địa lý Trung Quốc xoay lại mả cho mình
Long mạch có thể đổi chiều khi long mạch bị phá ở đoạn nào đó. Câu chuyện Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ thầy địa lý Trung Quốc xoay lại mả cho mình khi long mạch đổi chiều là một ví dụ điển hình.
Chuyện như sau: Trạng Trình có ba người vợ và 12 người con (bảy trai năm gái). Các con trai của ông đều có chức tước sau này. Ông mất ngày 28 tháng 11 năm Đinh Dậu, niên hiệu Diên Thành thứ 8 nhà Mạc (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Trước khi chết, Trạng có ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng: “Bình sinh ta có tấm bia đá sẵn và đã sơn kia. Khi ta mất rồi, hễ hạ quan tài xuống phải để tấm bia đá ấy lên nắp rồi lấp đất. Chờ khi nào có khách tới viếng mộ và nói rằng: “Thánh nhân mắt mù” thì phải lập tức mời người ấy vào nhà, yêu cầu họ đổi hướng lại ngôi mộ cho ta. Nếu trái lời ta, dòng dõi về sau sẽ suy đồi lụn bại đấy”.
b. Thánh nhân mắt mù
Con cháu nghe lời, làm y như đã dặn. Chờ mãi, chờ mãi vẫn không thấy ai đến, mãi năm mươi năm sau, mới có người khách đến nhìn mộ cụ một lúc rồi nói:
- Cái huyệt ở đằng chân sờ sờ thế kia mà không biết, lại tự đem để mả thế này. Vậy mà thánh nhân gì chớ, họa chăng là thánh nhân mắt mù.
Người trong họ nghe được, chạy về báo với trưởng tộc. Ông này vội vàng ra đón người khách kia về nhà, xin để xoay ngôi mộ kia lại. Hóa ra đó là một nhà phong thủy trứ danh của Trung Quốc. Ông ta sang nước Nam là để đi tìm xem di tích của Trạng Trình, bấy lâu ông ta đã nghe tiếng đồn. Khi nghe vị trưởng tộc nói, ông ta sẵn lòng làm ngay và tự đắc cho rằng mình giỏi hơn Trạng Trình. Ông ta bảo: “Không cần phải đem đi đâu xa cả, chỉ đào lên rồi xoay lại, nhích đi một chút là được”. Ông trưởng tộc bèn tụ họp con cháu lại, đưa thầy địa lý Trung Quốc ra đổi lại hướng của ngôi mộ. Lúc đào đến tấm bia đá, ông ta làm lạ bảo đem rửa sạch xem những gì trên đó. Khi tấm bia được rửa sạch, mới thấy mấy câu thơ hiện ra:      
Ngày nay mạch lộn xuống chân 
Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu.  
Biết gì những kẻ sinh sau?
Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ? 
Đọc tới đâu nhà phong thủy Trung Quốc đổ mồ hôi hột đến đó. Thì ra Trạng Trình mà ông ta nghe đồn quả nhiên danh bất hư truyền. So với Trạng Trình, có lẽ ông còn thua xa tài và đức. Nhân chuyện này chúng ta có thể hiểu thêm được về sự suy vong của các dòng tộc có thể là do các nguyên nhân như long mạch bị phá hay có thể do Long mạch đã đổi chiều, đổi hướng đi làm cho dòng tộc lúc thịnh lúc suy.


[1] Hội văn hóa Sơn Đông, Bàn về đạo Khổng, Nxb. Thanh Hoa, 1980, tr. 136.
[2] Hội văn hóa Sơn Đông, Bàn về đạo Khổng, Nxb. Thanh Hoa, 1980, tr. 312.
[3] Lưu Bá Lâm - Tìm hiểu phong thủy – Nxb. Thiểm Tây (Trung Quốc), tr. 84.
[4] Hội văn hóa Sơn Đông, Bàn về đạo Khổng, Nxb. Thanh Hoa, 1980, tr. 431.
[5] Thiền Uyển Tập Anh, bản dịch Tiếng Việt.
[6] Thiền Uyển Tập Anh, bản dịch Tiếng Việt.
[7] Cao Ngọc Lân - Cao Vũ Minh, Phong thủy theo quan điểm của người xưa (Sách tham khảo), Nxb. Lao Động, năm 2012.
 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Design by Pcduchiep